Bệnh chốc lở là gì? Triệu chứng và nguyên nhân gây ra

232

Tổng quan

Bệnh chốc lở là một bệnh nhiễm trùng da truyền nhiễm phổ biến. Vi khuẩn như Staphylococcus aureus hoặc Streptococcus pyogenes lây nhiễm sang các lớp ngoài da, được gọi là biểu bì.

Mặt, cánh tay và chân là những nơi thường bị ảnh hưởng nhất.

Bất cứ ai cũng có thể bị chốc lở nhưng thường gặp nhất ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ từ 2 – 5 tuổi.

Nhiễm trùng thường bắt đầu ở những vết cắt nhỏ, vết côn trùng cắn hoặc phát ban như chàm tại bất kỳ vị trí nào trên da.

Nó được gọi là bệnh chốc lở nguyên phát khi nó lây nhiễm sang da lành và chốc lở thứ phát khi nó chỉ xảy ra ở vùng da bị tổn thương.

Vi khuẩn phát triển mạnh trong điều kiện nóng ẩm, vì vậy bệnh chốc nở có xu hướng theo mùa, đạt đỉnh điểm vào mùa hè và mua thu ở các vùng khí hậu phía Bắc và xảy ra quanh năm ở những vùng khí hậu ấm áp, ẩm ướt.

benh choc lo

Các triệu chứng của bệnh chốc lở

Dấu hiệu đầu tiên của bệnh chốc lở là các vết loét đỏ trên da, thường thành đám xung quanh mũi và môi. Các vết loét này nhanh chóng phát triển thành mụn nước, rỉ dịch và vỡ ra, sau đó đóng thành các lớp vảy màu vàng.

Các cụm mụn nước có thể mở rộng để che phủ nhiều da hơn. Đôi khi các nốt đỏ chỉ phát triển thành một lớp vảy màu vàng mà không nhìn thấy bất kỳ mụn nước nào.

Các vết loét có thể gây ngứa và đôi khi gây cảm giác đau. Sau giai đoạn đóng vảy, chúng tạo thành các vết đỏ mờ dần mà không để lại sẹo.

Trẻ sơ sinh đôi khi bị chốc lở ít trở nặng hơn, các mụn nước lớn xung quanh vùng quấn tã hoặc da. Những vết phồng rộp chứa đầy chất lỏng này sớm vỡ ra, để lại một vành có vảy được gọi là keo dán.

Chốc lở có thể gây khó chịu, đôi khi nó khiến chúng ta bị sốt, sưng các tuyến quanh khu vực phát bệnh.

Nguyên nhân gây bệnh chốc lở

Chốc lở là một bệnh nhiễm trùng do các chủng vi khuẩn tụ cầu hoặc liên cầu gây ra. Những vi khuẩn này có thể xâm nhập vào cơ thể bạn qua vết nứt trên da do vết cắt, vết xước, vết côn trùng cắn hoặc phát ban. Sau đó chúng xâm nhập vào cơ thể.

Tình trạng này có thể lây nhiễm. Bạn có thể nhiễm vi khuẩn này nếu chạm vào vết loét của người bị chốc lở hoặc các vật dụng dùng chung như khăn tắm, quần áo hoặc ga trải giường của người bị chốc lở sử dụng.

Tuy nhiên, những vi khuẩn này cũng phổ biến trong môi trường của chúng ta và hầu hết những người tiếp xúc với chúng sẽ không chắc bị bệnh chốc lở.

Một số người thường mang vi khuẩn tụ cầu ở bên trong mũi của họ. Họ có thể bị nhiễm trùng nếu vi khuẩn lây lan sang da của họ.

Người lớn và trẻ em có nguy cơ bị chốc lở cao hơn nếu họ:

  • Sống ở nơi có khí hậu ẩm thấp
  • Mắc bệnh tiểu đường
  • Có hệ thống miễn dịch bị suy yếu, ví dụ như bệnh nhân HIV, AIDS
  • Mắc các bệnh về da như bệnh chàm, viêm da, bệnh vẩy nến.
  • Bị cháy nắng hoặc các vết bỏng khác
  • Bị nhiễm trùng ngứa như chấy, ghẻ, herpes simplex hoặc thủy đậu
  • Bị côn trùng cắn hoặc cây thường xuân độc

Những ai có nguy cơ bị chốc lở

Mặc dù bất kỳ ai cũng có thể mắc bệnh chốc lở nhưng nếu tiếp xúc gần với người đã bị nhiễm trùng sẽ là dễ nhiễm bệnh nhất. Chốc lở lây lan dễ dàng hơn trong môi trường đông người như ở:

  • Hộ gia đình
  • Trường học
  • Nhà tù
  • Công ty
  • Cơ sở huấn luyện quân sự

Tuổi tác cũng là một yếu tố nguy cơ đáng kể với bệnh chốc lở, phổ biến ở độ tuổi 2 – 5 tuổi, ít xảy ra với trẻ em dưới 2 tuổi. Với người lớn, bệnh này phổ biến ở nam giới hơn là nữ.

Vết cắt và xước có thể tăng nguy cơ nhiễm chốc lở. Hãy lưu ý các hoạt động có thể làm da bị rạn nứt và sử dụng các thiết bị bảo hộ nếu cần thiết. Các vết thương hở cần được làm sạch và băng bó.

Sống ở nơi có khí hậu nóng ẩm dễ tăng nguy cơ mắc chốc lở dù bệnh này có thể xảy ra ở bất kì đâu.

Vệ sinh cá nhân không tốt cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới bệnh chốc lở. Bạn có thể giảm thiểu rủi ro nhờ:

  • Rửa tay đúng cách
  • Tắm rửa sạch sẽ hàng ngày
  • Rửa mặt sạch sẽ

Các biến chứng từ bệnh chốc lở

Vi khuẩn gây bệnh chốc lở có thể gây nên các biến chứng bao gồm các bệnh nhiễm trùng khác nghiêm trọng hơn và các phản ứng miễn dịch có hại.

Hội chứng bỏng da do tụ cầu

Các trường hợp chốc lở chiếm tới 80% là do vi khuẩn Staphylococcus aureus gây ra. Vi khuẩn này kích hoạt việc giải phóng một số độc tố.

Ở quanh khu vực bị nhiễm trùng, những chất độc này có thể dẫn tới bệnh chốc lở. Nếu các chất độc lan rộng ra khắp cơ thể, điều này có thể dẫn tới hội chứng bỏng da do tụ cầu.

Nhiễm trùng mô mềm

Vi khuẩn gây bệnh chốc lở có thể gây nhiễm trùng da và mô mềm khác, bao gồm cả viêm mô hoại tử (viêm mô mềm).

Hội chứng sốc nhiễm độc

Cùng một loại vi khuẩn gây bệnh chốc lở cũng có thể gây ra hội chứng sốc nhiễm độc. Khi vi khuẩn rời khỏi da và xâm nhập vào máu, hội chứng sốc nhiễm độc có thể phát sinh như một biến chứng.

Các triệu chứng thường được cảm thấy nhanh chóng. Đây là một tình trạng có thể đe dọa đến tính mạng và cần được hỗ trợ y tế khẩn cấp.

Thấp khớp

Liên cầu nhóm A là vi khuẩn gây chứng viêm họng và ban đỏ, đôi khi nó có thể gây ra bệnh chốc lở. Sau khi bị một trong những bệnh nhiễm trùng, hệ thống miễn dịch của cơ thể có thể phản ứng với tình trạng viêm dưới dạng sốt thấp khớp.

Sốt thấp khớp thường ảnh hưởng nhất đến trẻ em từ 5 – 15 tuổi dù nó có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi. Cần điều trị ngay để tránh những biến chứng lâu dài.

Chẩn đoán

Bạn nên đi khám ngay nếu nghi ngờ bị chốc lở. Họ thường có thể chẩn đoán nhiễm trùng dựa vào sự xuất hiện của nó.

Nếu vết loét không khỏi sau khi điều trị, bác sĩ có thể cần xét ngihệm xem loại vi khuẩn nào đã gây ra vết loét đó để xác định loại kháng sinh nào sử dụng là tốt nhất.

Chốc lở ở người lớn

Dù bệnh chốc lở phổ biến xảy ra ở trẻ nhỏ nhưng người lớn cũng có thể mắc phải bệnh này. Vì bệnh rất dễ lây lan do tiếp xúc gần. Người lớn chơi thể thao thường bị mắc bệnh khi tiếp xúc da với da.

Các triệu chứng của bệnh chốc lở ở người lớn là lở loét quanh mũi và miệng hoặc các vùng tiếp xúc khác trên cơ thể. Những vết loét này vỡ ra, chảy nước và sau đó đóng vảy.

Bệnh chốc lở là một tình trạng da nhẹ, nhưng ở người lớn có nguy cơ biến chứng cao hơn trẻ em. Những biến chứng có thể của bệnh chốc lở ở người lớn như sau:

  • Viêm cầu thận cấp tính sau liên cầu
  • Viêm mô tế bào
  • Viêm bạch huyết
  • Nhiễm trùng huyết

Chốc lở ở trẻ mới biết đi

Trẻ mới biết đi là nhóm tuổi có nhiều khả năng mắc bệnh chốc lở nhất. Nhiễm trùng ở trẻ nhỏ khác với người lớn. Cha mẹ có thể thấy vết loét trên con mình tại:

  • Vùng mũi và miệng
  • Lưng
  • Tay
  • Chân
  • Quanh khu vực quấn tã

Ở trẻ nhỏ, nguyên nhân thường do bị côn trùng đốt hoặc vết xước trên da gãi. Gãi sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào da. Nếu gãi có thể gây nhiễm trùng nghiêm trọng hơn hoặc để lại sẹo.

Cha mẹ có thể giúp ngăn ngừa các biến chứng bằng cách che vết loét đi và cắt móng tay cho trẻ.

Điều trị

Sử dụng thuốc kháng sinh

Thuốc kháng sinh có hiệu quả chống lại bệnh chốc lở. Loại kháng sinh được sử dụng tùy thuộc vào mức độ lan rộng hay nghiêm trọng của vết lở.

Nếu bạn chỉ bị chốc lở ở một vùng da nhỏ, thuốc kháng sinh tại chỗ là phương pháp điều trị ưu tiên. Các lựa chọn bao gồm kem hoặc thuốc mỡ mupirocin (Bactroban hoặc Centany) và thuốc mỡ retapamulin (Altabax).

Nếu bệnh chốc lở nghiêm trọng hoặc lan rộng, bác sĩ có thể kê đơn thuốc kháng sinh uống như:

  • Amoxicillin/ Clavulanate (Augmentin)
  • Cephalosporin
  • Clindamycin (Cleocin)

Những loại thuốc này có thể hoạt động nhanh hơn so với thuốc kháng sinh tại chỗ nhưng chúng sẽ hiệu quả hơn trong việc loại bỏ nhiễm trùng.

Thuốc kháng sinh đường uống cũng có thể gây ra nhiều tác dụng phụ như buồn nôn.

Khi được điều trị, bệnh chốc lở thường lành lại sau từ 7 – 10 ngày. Nếu bạn bị nhiễm trùng hoặc bệnh da tiềm ẩn, vết nhiễm trùng có thể sẽ mất nhiều thời gian hơn để lành lại.

Thuốc kháng sinh là phương pháp điều trị chính với bệnh chốc lở nhưng bạn có thể giúp vết thương mau lành hơn bằng các phương pháp điều trị tại nhà khác.

Sử dụng nước ấm và thuốc kháng sinh không kê đơn

Làm sạch và ngâm vết loét 3-4 lần/ngày cho đến khi vết loét lành lại. Nhẹ nhàng làm sạch vết loét bằng nước ấm và xà phòng, sau đó loại bỏ lớp vảy. Rửa tay thật sạch sẽ trước và sau khi điều trị vết loét để tránh làm lây lan chúng.

Lau khô vùng bị loét và bôi thuốc mỡ kháng sinh theo đơn chỉ dẫn. Sau đó che nhẹ các vết loét bằng gạc nếu chúng nằm ở các khu vực hở.

Sau một vài ngày, nếu không thấy tình trạng được cải thiện thì bạn nên đi gặp bác sĩ.

Tinh dầu trị chốc lở

Tinh dầu là chất lỏng chiết xuất từ thực vật. Hàng chục loại tinh dầu có đặc tính kháng khuẩn. Điều này cho thấy rằng tinh dầu có thể là phương thuốc hữu ích cho bệnh chốc lở, mặc dù hiện tại chưa có nghiên cứu nào chứng minh điều này.

Những sản phẩm này có thể có lợi hơn thuốc kháng sinh vì một số vi khuẩn gây bệnh chốc lở đã kháng thuốc kháng sinh hiện tại.

Một số tinh dầu có thể hỗ trợ khắc phục chốc lở như:

  • Tinh dầu phong lữ
  • Tinh dầu hoắc hương
  • Tinh dầu cây chè

Trước khi bạn thử bất kì loại tinh dầu hoặc phương pháp điều trị thay thế nào, hãy nói chuyện trước với bác sĩ. Một số sản phẩm có thể gây tác dụng phụ và chúng không an toàn với tất cả mọi người. Hãy đảm bảo pha loãng tinh dầu ra trước khi sử dụng, không thoa lên mắt và các vùng xung quanh mắt.

Ngăn ngừa bệnh chốc lở

Nếu bạn không thể che phủ các vết thương một cách chắc chắn, trẻ sẽ dễ bị chốc lở nên hãy chăm sóc kĩ cho trẻ nếu chẳng may xuất hiện vết thương nào đó. Giữ gìn vệ sinh là cách tốt nhất để ngăn ngừa bệnh chốc lở. Dưới đây là một số cách giúp ngăn ngừa bệnh chốc lở:

  • Tắm và rửa tay thường xuyên để loại bỏ vi khuẩn trên da
  • Che bất kì vết thương nào trên da hoặc vết côn trùng cắn để bảo vệ khu vực này
  • Giữ móng tay của bạn được cắt ngắn và sạch sẽ
  • Không chạm, gãi vết loét hở, điều này có thể lây lan nhiễm trùng
  • Giặt tất cả mọi thứ tiếp xúc với vết chốc lở trong
  • Thường xuyên thay ga trải giường, khăn tắm và quần áo tiếp xúc với vết loét cho đến khi vết loét không còn lây lan nữa
  • Làm sạch và khử trùng các bề mặt, thiết bị và đồ chơi có thể đã tiếp xúc với bệnh chốc lở
  • Không dùng chung bất kì vật dụng cá nhân nào với người bị chốc lở.

Chốc lở và mụn nộp

Tương tự chốc lở, mụn nộp là những mụn nước hình thành xung quanh miệng, mũi hoặc ngón tay.

Mụn rộp do virus herpes simplex (HSV) gây ra. Virus này có hai dạng: HSV-1 và HSV-2. Thông thường, HSV-1 gây ra mụn rộp trong khi HSV-2 gây ra mụn rộp sinh dục.

Kem và thuốc kháng virus điều trị mụn rộp có thể sử dụng nếu cần thiết. Mụn nộp có thể lây lan khi hôn, các vết loét vẫn lây nhiễm cho đến khi chúng đóng vảy, vì vậy hãy hạn chế việc này.

Chốc nở và nấm ngoài da

Hắc lào là một bệnh nhiễm trùng do nấm trên da. Không giống chốc lở, bệnh hắc lào không gây ra các vảy vàng.

Bạn có thể mắc bệnh hắc lào khi tiếp xúc trực tiếp hoặc dùng chung vật dụng cá nhân với người bệnh hắc lào. Hắc lào có thể xuất hiện trên da đầu, người, da xung quanh bẹn, bàn chân.

Phương pháp điều trị điển hình là dùng kem chống nấm da, một số sản phẩm thuốc theo đơn thuốc của bác sĩ.

Bệnh hắc lào có thể gây ngứa ngáy, khó chịu. Giữ vệ sinh tốt có thể giúp ngăn ngừa hoặc phòng chống bệnh hắc lào tốt.

Chốc lở và chàm

Bệnh chàm không phải là một bệnh nhiễm trùng. Thay vào đó, nó có thể là phản ứng với các chất trong môi trường của bạn như chất tẩy rửa, kim loại hoặc cao su hoặc có thể liên quan đến dị ứng hoặc hen suyễn.

Các triệu chứng của bệnh chàm bao gồm: Da đỏ, ngứa ngáy, khô da.

Một loại khác được gọi là bệnh chàm bội nhiễm gây ra các mụn nước nhỏ chứa đầy chất lỏng hình thành trên bàn tay hoặc bàn chân. Những mụn nước này có thể ngứa và gây đau rát.

Những người bị dị ứng có nhiều khả năng bị chàm hơn. Cần tránh các chất gây ra phản ứng da có thể ngăn ngừa nó tái phát.

Kết luận

Chốc lở là một bệnh nhiễm trùng da do vi khuẩn rất dễ lây lan và thường không nghiêm trọng. Nó khỏi nhanh hơn khi dùng kháng sinh và giữ gìn vệ sinh nơi ở, vệ sinh cơ thể sạch sẽ để ngăn ngừa lây lan.

Nếu bạn nghi ngờ mình hoặc người thân bị chốc lở, hãy liên hệ bác sĩ để được tư vấn và chẩn đoán bệnh nhé.